Bài đăng mới nhất

Lạm phát (Inflation) xảy ra khi giá hàng hóa và dịch vụ tăng, trong khi giảm phát (Deflation) xảy ra khi giá giảm. Sự cân bằng giữa hai điều kiện kinh tế này, hai mặt đối lập của cùng một đồng tiền, rất tế nhị và một nền kinh tế có thể nhanh chóng chuyển từ trạng thái này sang trạng thái còn lại (Nguồn: Investopedia.com).


Lạm phát (Inflations) xảy ra khi giá tăng, còn Giảm phát (Deflations) xảy ra khi giá giảm.

Trong 20 năm qua, và lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, chi phí dịch vụ (lao động) đã tăng lên trong khi chi phí cho "hàng hóa" (hàng hóa lâu bền) đang giảm dần. Từ năm 1959 đến năm 1994, giá hàng hóa lâu bền không bao giờ giảm trong hơn một hoặc hai tháng. Điều này đã thay đổi bắt đầu từ năm 1995, đó là năm đồng nhân dân tệ của Trung Quốc bắt đầu mạnh lên, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu được tự do hóa, và Trung Quốc bắt đầu chuyển thành một cường quốc sản xuất và xuất khẩu. Kết quả là chi phí ngành dịch vụ tăng khoảng hai phần ba, nhưng chi phí hàng hóa lâu bền đã giảm gần một phần ba.



Theo merriam-webster.com thì

 A recession is a downtrend in the economy that can affect production and employment, and produce lower household income and spending. The effects of a depression are much more severe, characterized by widespread unemployment and major pauses in economic activity.

Tạm hiểu:

Khủng hoảng (Depression) thường kéo dài và trầm trọng hơn rất nhiều so với Suy thoái (Recession).


Suy thoái (recession) là một sự sụt giảm trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến sản xuất, việc làm và dẫn đến các mức thấp hơn trong thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Các cuộc suy thoái kéo dài ít nhất 6 tháng. Còn các cuộc khủng hoảng (depression) thường kéo dài và trầm trọng hơn rất nhiều, được đặc trưng bởi tình trạng thất nghiệp trên diện rộng, và phần lớn các hoạt động đình trệ.


Trong hệ thống phân ngành chuẩn quốc tế (ISIC) và chuẩn Việt Nam (VSIC) thì hoạt động kinh doanh bất động sản (BĐS) thuộc nhóm ngành cấp 1 (kí hiệu ngành L) tương đương với nhóm ngành lớn như nông, lâm nghiệp và thủy sản hoặc công nghiệp chế biến, chế tạo. Điều này cho thấy phần nào tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh BĐS trong nền kinh tế.

Kinh doanh BDS là một trong những nhóm ngành có tỷ lệ phát thải khí nhà kính thấp nhất. Ngoài ra, tầm quan trọng của BĐS đối với tăng trưởng kinh tế còn được thể hiện mức đóng góp của yếu tố vốn là đất đai là 22% (vốn bằng tiền khoảng 15%) cùng với khoảng đóng góp của người lao động là 20% và TFP khoảng 43% vào tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế.

Về cơ cấu giá trị tăng thêm (VA) trong GDP thì tỷ trọng ngành BĐS có khuynh hướng ngày càng thấp, từ mức 6,7% năm 2005 giảm còn 4,6% vào năm 2018 (hình 1, 2 - ảnh trên).

Điều này có thể giải thích bởi tốc độ tăng trưởng của ngành BĐS thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo.

Trớ trêu là nền công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam phần lớn là nền công nghiệp gia công, lắp ráp, phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI rất lớn. Hàm lượng giá trị tăng thêm (VA) mà Việt Nam nhận được rất thấp nhưng lại gây ô nhiễm môi trường nặng nhất. Trái lại, ngành BĐS là một trong những nhóm ngành có tỷ lệ phát thải khí nhà kính thấp nhất.


Sự đóng góp của ngành BĐS không chỉ trực tiếp thông qua hoạt động kinh doanh BĐS mà còn qua yếu tố vốn và đất đại. Trong "Sách trắng về điều tra doanh nghiệp 2020" Bộ KH-ĐT cho thấy đóng góp của yếu tố vốn bằng tiền khoảng 15%, yếu tố vốn là đất đai là 22% cùng với khoảng đóng góp của người lao động là 20% và TFP khoảng 43% vào tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế.

Nguồn: Bùi Trinh, "Đóng góp của bất động sản cho nền kinh tế",  TBKTSG 27/2020 (trang 56-57)

Cả GDP và GNI đều là những chỉ số đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Tuy nhiên có sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai chỉ số này. Sự chênh lệch giữa hai giá trị GDP và GNI càng làm rõ (trầm trọng) hơn ý nghĩa đánh giá hiệu quả trong hoạch định chiến lược phát triển của đất nước. Hãy cùng tìm hiểu ý nghĩa của các chỉ số này trong trường hợp Việt Nam, với sự minh họa điển hình từ Ireland.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, GDP bình quân đầu người của Việt Nam bắt đầu tăng và vượt mức GNI bình quân đầu người. Khoảng cách giữa hai chỉ số này cũng có xu hướng nới rộng hơn, lên 7% trong hai năm 2017 và 2018.


Từ những năm 90 của thế kỷ 20, Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký và thực hiện gia tăng với tốc độ trung bình lần lượt là 25% và 19% trong giai đoạn 1991 - 2018 và FDI ròng (net FDI) tương đương 9% GDP trong cùng giai đoạn.



Cùng với sự tăng trưởng của nguồn vốn FDI, lợi nhuận mà các doanh nghiệp và nhà đầu tư ngoại thu được từ hoạt động sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng. 
Theo số liệu của GSO thì tính đến hết năm 2016, tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài (100% hoặc liên doanh với nước ngoài) đạt khoảng 145 nghìn tỷ đồng (tương đương 3,2% GDP theo giá thực tế). Giả thiết 75% số lợi nhuận này được chia cho cổ đông không lưu trú ở Việt Nam thì cũng tương đương 2.4% GDP hay 110 nghìn tỷ đồng. Con số này chưa tính toán đến lợi nhuận mà các nhà đầu tư nước ngoài thu được thông qua hoạt động góp vốn, mua cổ phần trên thị trường chứng khoán.




Theo Niên giám thống kê năm 2019, các doanh nghiệp FDI chuyển tiền ra khỏi Việt Nam khoảng 18 tỷ USD, làm thu nhập quốc gia (GNI) ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ đi so với GDP. Năm 2013, nếu GNI bằng 97% GDP thì đến năm 2018 tỷ lệ này chỉ còn 92% GDP (Trích trong TBKTSG T2/2020 "Đóng góp của bất động sản cho nền kinh tế", Bùi Trinh trang 56-57).

Như vậy, nếu giả thiết trên thành hiện thực thì vấn đề cần quan tâm là nguồn lực gia tăng cho đầu tư, tái sản xuất mở rộng và tạo thêm việc làm - thu nhập cho người dân trong nước còn lại là bao nhiêu?
Nói cách khác tăng trưởng thực tế của kinh tế Việt Nam sẽ là bao nhiêu phần trăm nếu không tính phần gia tăng do đóng góp của đầu tư nước ngoài?

Việc chỉ ra những chênh lệch này hoàn toàn không chủ ý rằng FDI là một yếu tố tiêu cực với tăng trưởng thực của kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, mục tiêu chính của những lập luận và tính toán trên nhằm chỉ ra với trường hợp của Việt Nam là tương tự Ireland.

Cả GDP và GNI đều là những chỉ số đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Tuy nhiên có sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai chỉ số này. Sự chênh lệch giữa hai giá trị GDP và GNI càng làm rõ (trầm trọng) hơn ý nghĩa đánh giá hiệu quả trong hoạch định chiến lược phát triển của đất nước.

Trong trường hợp này, GDP không phải là thước đo chính xác và hiệu quả duy nhất phản ánh trình độ phát triển kinh tế quốc gia trên thực tế. Việc tính toán và sử dụng chỉ số GNI, có điều chỉnh cho phù hợp với các đặc thù của kinh tế Việt Nam sẽ góp phần phản ánh tốt hơn hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế đối với đời sống của người dân.

Mặc dù GNI có những điểm yếu như có độ trễ trong tính toán, không thể tính toán ngay hàng quý và đưa vào sử dụng trong công tác chỉ đạo, điều hành chính sách ngắn hạn. Song việc cân nhắc đưa chỉ báo này vào danh sách các mục tiêu trung và dài hạn là cần thiết. Hành động này cũng sẽ cung cấp thông tin định hướng hữu ích cho các địa phương khi đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội. Theo đó, các chính sách phát triển không nên chỉ tập trung thu hút FDI đơn thuần mà nên lấy thu nhập của người lao động và mức sống của cư dân làm thước đo hiệu quả.

Nguồn:

  • Vũ Thị Hằng, "GDP và GNI: đâu mới là phát triển thực sự?" TBKTSG 27/2020 (trang 58 - 59)
  • Bùi Trinh, "Đóng góp của bất động sản cho nền kinh tế",  TBKTSG 27/2020 (trang 56-57)

Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã định nghĩa dòng vốn đầu tư nước ngoài dùng để mua từ 10% cổ phần các doanh nghiệp nội địa trở lên thì được xem là FDI; mua ít hơn, mua trên thị trường chứng khoán mới là đầu tư gián tiếp (FII).

Mỗi khi nói tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chúng ta thường hình dung nhà đầu tư từ một nước nào đó đem vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vào nước ta để thành lập doanh nghiệp mới, có thể là 100% vốn của họ, cũng có thể liên doanh với một công ty trong nước.

Thế nhưng, mấy năm gần đây một tỷ lệ lớn dòng vốn FDI đi vào nước ta ở dạng mua cổ phần, cổ phiếu ở các doanh nghiệp trong nước đang hoạt động.

Chẳng hạn tính cả năm 2019, số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê cho thấy trong tổng vốn FDI đạt 38 tỉ đô la Mỹ thì phần góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài lên đến 15,5 tỉ đô la, gần bằng lượng vốn đăng ký cho các dự án mới là 16,7 tỉ đô la.

Dòng vốn đầu tư nước ngoài dùng để mua từ 10% cổ phần các doanh nghiệp nội địa trở lên thì được xem là FDI; mua ít hơn, mua trên thị trường chứng khoán mới là đầu tư gián tiếp.

Đáng chú ý, trong khi vốn đăng ký cho các dự án mới được cấp phép giảm 6,8% so với năm trước thì tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần lại tăng đến 56,4%. Điều đó có nghĩa ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài chọn con đường góp vốn hay mua cổ phần tại các doanh nghiệp trong nước hơn là bắt tay xây dựng một dự án hoàn toàn mới.

Đây cũng là xu thế chung của cả thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã định nghĩa dòng vốn đầu tư nước ngoài dùng để mua từ 10% cổ phần các doanh nghiệp nội địa trở lên thì được xem là FDI; mua ít hơn, mua trên thị trường chứng khoán mới là đầu tư gián tiếp.

Chính vì thế nhiều người ngạc nhiên khi biết Mỹ đứng đầu thế giới trong thu hút FDI, hơn cả Trung Quốc - đó là bởi, lấy số liệu năm 2018,trong lượng vốn FDI chảy vào nước Mỹ, đến 287,3 tỉ đô la Mỹ là để mua cổ phần công ty Mỹ có sẵn, chỉ 5,3 tỉ đô la được đầu tư để lập doanh nghiệp mới.

Đầu tư nước ngoài có thể theo mô hình trong đó nhà đầu tư có sẵn thiết kế chi tiết cho một sản phẩm, một linh kiện, thậm chí một bộ phận rất nhỏ, họ chỉ việc đi mua cổ phần một công ty có thể sản xuất sản phẩm đó cho họ, tham gia quản lý để bảo đảm chất lượng sản phẩm. Đây là xu thế không tránh được, nhất là sau khi toàn cầu hóa kiểu cũ chững lại, dịch bệnh lại làm ngưng trệ các chuỗi cung ứng.

Như vậy khi nói thu hút đầu tư nước ngoài, khi nói vạch chính sách hấp dẫn nhà đầu tư, chúng ta cũng nên chú ý đến đặc điểm này của dòng vốn FDI bởi nỗ lực thu hút FDI hiểu theo nghĩa cũ là chưa đủ, vẫn còn để trống gần một nửa dòng vốn tiềm năng. Nói cách khác, ví von “dọn tổ cho đại bàng cũng phải rắc thóc cho chim sẻ” là suy nghĩ đúng nhưng lỗi thời, bởi hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp trong nước lớn mạnh cũng chính là cách thu hút FDI, không còn phân biệt “chim sẻ” và “đại bàng” nữa.

Hiện nay dòng vốn FDI dưới các cam kết quốc tế đang hưởng những lợi thế doanh nghiệp trong nước không có được; quan trọng nhất là thái độ ứng xử với doanh nghiệp FDI dù sao cũng đã vào khuôn khổ luật pháp chặt chẽ hơn so với doanh nghiệp trong nước. Cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước hoạt động chính là góp phần thu hút dòng vốn FDI một cách trực tiếp chứ không nói đâu xa.

Cái ưu điểm của mô hình này là dần dần doanh nghiệp trong nước sẽ lớn mạnh, sẵn sàng đáp ứng các đơn hàng lớn của các đối tác bên ngoài, chủ động tham gia các chuỗi cung ứng và sau này dù nhà đầu tư nước ngoài có thoái vốn, doanh nghiệp vẫn sẽ tồn tại chứ không như doanh nghiệp FDI theo mô hình cũ, nước ngoài rút đi là đóng cửa ngưng hoạt động luôn. 
Mọi loại hình doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, dù sao cũng hoạt động dưới một mái nhà chung là Luật Doanh nghiệp.

Nguồn: Ý kiến - TBKTSG số 27/2020 (trang 1)

Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.